Trang Chủ
Hội Thánh Công Giáo
Giáo Phận Phan Thiết
Các Giáo Hạt
Thánh Mẫu TaPao
Báo Liên Lạc
Chủng Viện Nicolas
Caritas Phan Thiết
Liên Tu Sĩ
Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ
Giáo Lý Viên
Ca Đoàn
Thiếu Nhi Thánh Thể
Tu Đoàn Bác Ái Xã Hội
Chia Sẻ Mục Vụ
Văn Học Nghệ Thuật
Liên Kết Website

Loading

Chủng Viện Nicolas  »  Thông báo

NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI TRONG VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC (IV)

Posted on by Xuân Bích Việt Nam

 III. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN

29. Trong chương này, chúng ta xem xét cách vắn tắt « những nguyên tắc trường tồn » và những giá trị nền tảng không bao giờ được thiếu trong giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Tiếp đến, chúng ta trình bày, ở phần phụ lục, một dàn bài về chương trình của môn học, có thể được thích ứng cho những nhu cầu cần thiết cụ thể của mỗi Giáo Hội địa phương.

1. Những nguyên tắc suy tư trường tồn

30. Những lời mở đầu

Những nguyên tắc này đã được Giáo Hội trình bày không phải theo cách hữu cơ, trong một văn kiện duy nhất, nhưng trong suốt sự tiến triển lịch sử của học thuyết xã hội. Chúng ta thu nhập chúng vào trong toàn bộ các văn kiện khác nhau mà Huấn Quyền của Giáo Hội, cùng với sự cộng tác của các giám mục, các linh mục và các giáo dân sáng suốt (70), đã soạn thảo bằng việc đương đầu với những vấn đề xã hội khác nhau dần dần tùy theo sự xuất hiện của chúng.

Rõ ràng rằng văn kiện này không phải là và không muốn là một tổng hợp mới cũng không phải là một cuốn giáo khoa về các nguyên tắc này, nhưng chỉ là một toàn bộ các định hướng được xem là thích hợp cho việc giảng dạy.

Nó cũng không phải là một trình bày đầy đủ các nguyên tắc, nhưng chỉ là chỉ rõ các nguyên tắc được giữ lại như là quan trọng hơn và, do đó, xứng đáng được lưu ý đặc biệt trong việc đào tạo các linh mục tương lai.

Trong số các nguyên tắc này, cần được xem như là nền tảng những nguyên tắc liên quan đến nhân vị, công ích, tình liên đới và việc tham gia. Những nguyên tắc khác được nối kết mật thiết với chúng và phát sinh từ chúng.

31. Nhân vị

Phẩm giá của nhân vị được xây dựng trên sự kiện rằng nó được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa và được nâng lên một cứu cánh siêu nhiên siêu vượt cuộc sống trần gian. Bởi thế, con người, với tư cách là hữu thể có trí tuệ và tự do, chủ thể của các quyền và nghĩa vụ, là nguyên tắc đầu tiên và, chúng ta có thể nói, là trung tâm và linh hồn của giáo huấn xã hội của Giáo Hội (71). « Các tín hữu và những người không tin đều hầu như đồng ý cho rằng tất cả những gì tồn tại trên trái đất đều phải quy chiếu về con người như là trung tâm và là đỉnh cao của nó (72). » Chính nguyên tắc này, trong tầm quan trọng nhân chủng học của nó, cấu thành nguồn mạch của các nguyên tắc khác, mà thuộc về phần chính của học thuyết xã hội. Con người-nhân vị là chủ thể và là trung tâm của xã hội, một xã hội với những cấu trúc, tổ chức và chức năng của nó có mục đích là tạo nên và thích ứng liên tục những điều kiện kinh tế và văn hóa cho phép nhiều người hết sức có thể phát triển các khả năng của họ và thỏa mãn những đòi hỏi hoàn thiện và hạnh phúc chính đáng của họ. Vì lý do này, Giáo Hội sẽ không bao giờ chán nản nhấn mạnh đến phẩm giá của nhân vị, chống lại mọi tình trạng nô lệ, khai thác bóc lột và những mưu mô gây thiệt hại cho con người, không chỉ trong lãnh vực chính trị và kinh tế, nhưng còn cả trong lãnh vực văn hóa, ý thức hệ và y học (73).

32. Nhân quyền

Theo một lôgíc nội tại, nhân quyền phát xuất từ chính phẩm giá của nhân vị. Giáo Hội đã ý thức về tính cấp bách gìn giữ và bảo vệ các quyền này, xem nhiệm vụ này như là thuộc phần của sứ mạng cứu độ của mình, theo gương Chúa Giêsu, Đấng luôn tỏ ra quan tâm đến những nhu cầu của con người, đặc biệt là những người nghèo nhất.

Trước khi được trình bày dưới hình thức của một hệ thống lý thuyết, hữu cơ và đầy đủ, khẳng định về nhân quyền đã xuất hiện trong Giáo Hội như là một sự phục vụ cụ thể đối với nhân loại. Qua suy tư của mình, cách nào đó, Giáo Hội đã phân định các nền tảng triết học và thần học cũng như những bao hàm pháp lý, xã hội, chính trị và luân lý, như được suy ra từ những văn kiện của giáo huấn xã hội của mình. Và Giáo Hội đã thực thi nhiệm vụ này không phải trong một khung cảnh đối lập cách mạng đòi hỏi các quyền của con người chống lại các quyền bính truyền thống, nhưng trên nền tảng của Luật được Đấng Tạo Hóa ghi khắc trong bản tính con người.

Sự nhấn mạnh mà qua đó Giáo Hội, đặc biệt vào thời đại chúng ta, đã trở nên người thăng tiến việc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, dù những quyền này là cá nhân hay xã hội, được giải thích không chỉ bởi sự kiện rằng sự can thiệp của Giáo Hội hôm nay cũng như hôm qua đều được Tin Mừng gợi hứng (74), nhưng còn bởi sự kiện là từ suy tư của Giáo Hội đã được khai triển một sự khôn ngoan thần học và luân lý mới mẻ để đương đầu với những vấn đề của thế giới đương đại (75). Đặc biệt, quyền tự do tôn giáo, liên quan đến tất cả những gì chạm đến phạm vi thâm sâu nhất của tâm hồn, « biểu lộ điểm quy chiếu và, cách nào đó, trở nên thước đo của những quyền căn bản khác (76) ». Ngày nay, nó được bảo vệ bởi các Tổ chức công và tư, quốc gia và quốc tế khác nhau. Về phần mình, Giáo Hội Công Giáo đặc biệt tỏ ra liên đới với tất cả những ai đang chịu những phân biệt kỳ thị và những bách hại vì đức tin, và Giáo Hội làm việc cách nhiệt thành và bền bỉ để những hoàn cảnh bất công này được vượt qua.

33. Những đóng góp của Huấn Quyền Giáo hoàng cho nhân quyền

Cùng với Huấn Quyền của Công đồng, Huấn Quyền  Giáo hoàng đã trình bày và khai triển cách phong phú đề tài nhân quyền. Đức Piô XII đã từng trình bày các nguyên tắc, được xây dựng trên quyền tự nhiên, được cụ thể hóa trong một nền dân chủ lành mạnh, có khả năng tôn trọng tốt hơn quyền tự do, hòa bình, các của cải vật chất. Về sau, thông điệp Hòa Bình Dưới Thế của đức Gioan XXIII là bản văn giáo hoàng chính thức đầu tiên minh nhiên dành cho các quyền của con người. Quả thế, khi tìm hiểu « các dấu chỉ của thời đại », Giáo Hội nhận thấy sự cần thiết tuyên bố các quyền « phổ quát, bất khả xâm phạm và bất khả tước bỏ » của mọi người, chống lại mọi phân biệt kỳ thị và mọi quan niệm đặc thù chủ nghĩa. Vì thế, thông điệp Hòa Bình Dưới Thế không bằng lòng xây dựng nhân quyền trên luật bản nhiên vốn gắn liền với việc Sáng tạo và được quy hướng theo Công trình cứu chuộc mà thôi, nhưng còn sửa chữa một khía cạnh cá nhân chủ nghĩa nào đó về quan niệm truyền thống về sự hỗ tương của các quyền và các nghĩa vụ, bằng việc lồng các quyền vào trong khung cảnh liên đới và bằng việc nhấn mạnh đến những đòi hỏi thuộc trật tự cộng đồng mà cộng đồng bao hàm.

Đến lượt mình, trong thông điệp Phát Triển Các Dân Tộc, mà không tách rời nhân quyền khỏi lãnh vực lý trí, bằng cách đặc biệt thực hiện quan điểm được Công đồng Vatican II theo đuổi, đức Phaolô VI  đã làm nổi bật nền tảng Kitô giáo của chúng và cho thấy làm thế nào đức tin biến đổi chính sự năng động nội tại của chúng. Vả lại, người ta phải lưu ý rằng, nếu thông điệp Hòa Bình Dưới Thế là hiến chương về nhân quyền, thì thông điệp Phát Triển Các Dân Tộc là hiến chương về các quyền phát triển của các dân tộc nghèo. Về sau, khi đào sâu suy tư này, đức Gioan-Phaolô II sẽ xây dựng các quyền con người cùng lúc trên ba chiều kích của chân lý toàn diện về con người : trên phẩm giá của con người, trên con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, trên con người được lồng vào trong mầu nhiệm của Chúa Kitô. Sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội được xây dựng trên phẩm giá của con người được nhìn dưới ánh sáng của công trình cứu chuộc của Chúa Kitô này ; chính vì thế mà Giáo Hội không thể nín lặng khi các quyền bất khả xâm phạm của con người và của các dân tộc bị tổn thương hay gặp hiểm nguy. Quả  thế, theo quan điểm Kitô giáo, các quốc gia và các tổ quốc là một thực tại nhân loại có giá trị tích cực và người ta không thể chối bỏ, thực tại mà xây dựng nền tảng cho các quyền bất khả xâm phạm giữa lòng các dân tộc khác nhau, đặc biệt là quyền căn tính riêng và quyền phát triển của các dân tộc (77).

34. Tương quan nhân vị-xã hội

Tự bản chất, nhân vị là một hữu thể xã hội : tức là do sự nghèo nàn bẩm sinh của nó và do khuynh hướng tự nhiên tương giao với người khác của nó. Đặc tính xã hội này của con người là nền móng của mọi hình thức xã hội và của các đòi hỏi luân lý được ghi khắc ở đó. Con người không thể tự mãn để đạt tới sự phát triển trọn vẹn của nó, nhưng nó cần những người khác và cần đến xã hội.

Nguyên tắc tương thuộc lẫn nhau nhân vị-xã hội này, mà thực chất được nối kết với nguyên tắc phẩm giá nhân vị, dựa vào cấu tạo phức tạp của đời sống xã hội của con người, được điều chỉnh theo những luật lệ riêng và thích đáng, được hoàn thiện bởi suy tư Kitô giáo (78).

Việc hiểu những khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội hôm nay không phải luôn luôn dễ dàng, do những biến chuyển nhanh chóng và sâu xa được ghi nhận trong tất cả các lãnh vực, nhờ trí thông minh và hoạt động sáng tạo của con người. Về phần chúng, những biến chuyển gây nên những khủng hoảng được phản ảnh hoặc trong những bất quân bình nội tâm của con người mà luôn tăng thêm luôn hơn nữa quyền lực của mình nhưng lại không luôn thành công hướng nó đến những mục đích đúng đắn ; hoặc trong những tương quan xã hội, vì người ta không luôn đạt tới việc áp dụng chính xác những luật lệ điều chỉnh đời sống xã hội (79).

35. Do đó, xã hội loại người là đối tượng của giáo huấn xã hội của Giáo Hội, từ giây phút mà Giáo Hội không ở bên ngoài cũng không ở bên trên những con người kết hợp trong xã hội, nhưng chỉ tồn tại trong họ và, do đó, cho họ. Giáo Hội nhấn mạnh đến « bản tính nội tại xã hội » của con người (80). Thế nhưng, người ta nhận thấy rằng, ở đây, « cái xã hội » không trùng khít với « cái tập thể », mà nhân vị chỉ là một sản phẩm đối với nó. Sức mạnh và sự năng động của điều kiện xã hội này của nhân vị được phát triển trọn vẹn trong xã hội mà, cũng thế, thấy các mối quan hệ của đời sống chung tăng trưởng trên bình diện quốc gia lẫn bình diện quốc tế (81).

36. Từ phẩm giá nhân vị, từ các quyền và từ xã hội tính của nó xuất phát những nguyên tắc suy tư trường tồn khác định hướng và điều chỉnh đời sống xã hội. Trong số các nguyên tắc mà suy tư của Huấn Quyền đã đào sâu, cần phải đề cập đến những nguyên tắc liên quan đến công ích, tình liên đới, tính phụ đới, sự tham gia, quan niệm hữu cơ về đời sống xã hội và dự định chung cho các của cải.

 37. Công ích

 Khi nói về những luật lệ và những nguyên tắc điều chỉnh đời sống xã hội, đầu tiên, cần phải xét đến « công ích ». Cho dầu công ích, « trong những khía cạnh thiết yếu và sâu xa hơn của nó, không thể được quan niệm bằng từ ngữ học thuyết và càng ít được xác định hơn trong các nội dung lịch sử của nó (82) », thế nhưng, nó có thể được mô tả như là « toàn bộ những điều kiện xã hội cho phép và giúp cho sự phát triển toàn diện của nhân vị nơi các hữu thể nhân linh (83) ». Bởi thế, cho dầu công ích này trổi vượt hơn lợi ích riêng tư, nhưng nó không thể tách rời khỏi thiện ích của nhân vị, mà bó buộc công quyền nhìn nhận, tôn trọng, tổ chức, bảo vệ và thăng tiến nhân quyền và cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện các nghĩa vụ riêng của mỗi người. Do đó, việc vận dụng công ích có thể được xem như là lý do hiện hữu của công quyền, mà bó buộc thực hiện công ích vì lợi ích của tất cả mọi người và của toàn thể con người – được xem xét trong chiều kích trần thế-thế tục và siêu việt của nó – trong sự tôn trọng một thứ bậc đúng đắn các giá trị và những định đề của các hoàn cảnh lịch sử (84).

Do đó, khi xem công ích như là một giá trị phục vụ và tổ chức đời sống xã hội và tổ chức một trật tự đời sống chung mới, Giáo Hội đang làm nổi bật ý nghĩa nhân bản của nó và khả năng thúc đẩy các cấu trúc xã hội trong tính toàn diện của chúng và trong những lãnh vực riêng biệt của chúng, và Giáo Hội kích thích những biến đổi sâu xa theo tiêu chí công bằng xã hội.

38. Nguyên tắc liên đới và nguyên tắc phụ đới

Liên đới và phụ đới là hai nguyên tắc quan trọng khác, điều chỉnh đời sống xã hội. Theo nguyên tắc liên đới, mỗi người, với tư cách là thành phần của xã hội, được liên kết cách bền chặt với số phận của chính xã hội và, trong sức mạnh của Tin Mừng, với số phận ơn cứu độ của tất cả mọi người. Trong thông điệp Mối Bận Tâm Vấn Đề Xã Hội, đức Giáo Hoàng đã đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nguyên tắc này, xem nó là đức tính nhân bản và kitô giáo (85).  Những đòi hỏi luân lý của nguyên tắc liên đới đòi hỏi rằng mọi người, các nhóm và các cộng đoàn địa phương, các hiệp hội và các tổ chức, các quốc gia và các châu lục, tham gia vào việc quản lý tất cả các sinh hoạt kinh tế, chính trị và văn hóa, bằng cách vượt quá mọi quan niệm luân lý thuần túy cá nhân chủ nghĩa (86).

Nguyên tắc phụ đới, tức nguyên tắc bảo vệ nhân vị, các cộng đoàn địa phương và các « cơ cấu trung gian » khỏi mối hiểm nguy đánh mất sự tự trị chính đáng của họ, phải được xem như là một nguyên tắc bổ túc cho nguyên tắc liên đới. Giáo Hội chú ý đến việc áp dụng nguyên tắc này vì chính phẩm giá của nhân vị, vì sự tôn trọng những gì là nhân bản hơn trong việc tổ chức đời sống xã hội (87) và vì sự bảo vệ các quyền của các dân tộc ở trong các mối quan hệ giữa các xã hội đặc thù và xã hội phổ quát.

39. Nguyên tắc quan niệm hữu cơ về đời sống xã hội

Từ tất cả những gì được nói, suy ra là, một xã hội có tổ chức sẽ không được hiểu cách thích đáng nếu không có một quan niệm hữu cơ về đời sống xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi rằng, một mặt, xã hội cần được xây dựng nền tảng trên sự năng động nội tại của các thành viên của nó – sự năng động mà có nguồn gốc của nó trong sự hiểu biết và ý chí tự do của những con người đang liên đới tìm kiếm công ích – và, mặt khác, trên cấu trúc và tổ chức của xã hội, được cấu thành không chỉ bởi mỗi nhân vị tự do, nhưng còn bởi các hội trung gian, mà cần được sát nhập vào trong một đơn vị trổi vượt hơn, từ gia đình bằng việc thông qua các cộng đoàn địa phương, các hiệp hội nghề nghiệp, các vùng và các Nhà Nước quốc gia, đến các cơ cấu siêu quốc gia và xã hội phổ quát của tất cả các dân tộc và của mọi quốc gia (88).

40. Nguyên tắc tham dự

Nguyên tắc tham dự chiếm một chỗ ưu thế trong các khai triển gần đây của giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Sức mạnh của nó hệ tại trong sự kiện là nó bảo đảm việc thực hiện các đòi hỏi luân lý của công bằng xã hội. Sự tham dự đúng đắn, tương xứng và có trách nhiệm  của tất cả các thành phần và các lãnh vực của xã hội vào sự phát triển đời sống kinh tế xã hội, chính trị và văn hóa, là một con đường đảm bảo để đạt tới một đời sống chung mới được nhân bản. Giáo Hội không chỉ không quên nhắc nhớ nguyên tắc này (89), nhưng còn tìm thấy nơi nó một lý do trường tồn để giúp cho sự tiến bộ của phẩm chất của đời sống các các nhân và xã hội. Nó hệ tại một khát vọng sâu xa của con người, mà diễn tả phẩm giá và tự do của nó trong sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật, trong thế giới lao động và đời sống công cộng (90).

41. Các cấu trúc nhân bản và các cộng đồng nhân vị

Giáo Hội nhiều lần tìm cách đề phòng hiểm họa thực sự, mà đe dọa phẩm giá nhân vị, sự tự do cá nhân và những tự do xã hội, và xuất phát từ quan niệm « duy kỹ thuật » và máy móc về đời sống và cấu trúc xã hội, một quan niệm mà không để chỗ đủ cho sự phát triển một thuyết nhân bản đích thực. Nơi nhiều quốc gia, Nhà Nước hiện đại bị biến thánh một cổ máy quản lý khổng lồ xâm chiếm mọi lãnh vực của đời sống, dẫn đưa con người vào một tình trạng sợ hãi và lo âu mà gây nên tình trạng mất nhân cách (91).

Bởi thế, Giáo Hội cho là cần thiết các cơ cấu và các hiệp hội tư đa dạng mà dành chỗ thích hợp cho nhân vị và khuyến khích sự tăng trưởng các quan hệ hợp tác trong sự phụ thuộc vào công ích ; tuy nhiên, bởi vì các cơ cấu này là những cộng đoàn đích thực, nên những thành viên của chúng phải được xem và tôn trọng như là những nhân vị và được mời gọi tham gia cách chủ động vào các nhiệm vụ chung (92).

Bởi thế, đối với Giáo Hội, con đường chắc chắn cho phép đạt tới mục đích này là liên kết lao công và vốn và mang lại sinh khí cho các cơ cấu trung gian (93).

Việc vận dụng các nguyên tắc này, mà điều chỉnh đời sống xã hội ở các cấp bậc tổ chức xã hội khác nhau và trong những lãnh vực đa dạng của hoạt động của con người, cho phép vượt quá mọi căng thẳng giữa việc xã hội hóa và nhân cách hóa. Hiện tượng gia tăng các mối quan hệ và các cấu trúc xã hội hiện nay ở tất cả các cấp bậc, mà được phát xuất từ những quyết định tự do và nhắm cải tiến phẩm chất của cuộc sống con người, chỉ có thể được tiếp nhận cách tích cực, vì nó làm cho hiển nhiên việc thể hiện tình liên đới nhân loại và giúp cho việc mở rộng phạm vi hoạt động vật chất và tinh thần của nhân vị.

42. Dự định chung cho các của cải

Với « nguyên tắc đặc thù này của học thuyết xã hội của Giáo Hội (94), người ta khẳng định rằng các của cải trái đất được dành cho mọi người để quyền sống của họ có thể được thỏa mãn cách phù hợp với phẩm giá nhân vị và với những đòi hỏi của gia đình. Quả thế, « Thiên Chúa đã dự định trái đất và tất cả những gì mà nó chứa đựng cho mọi người và mọi dân tộc sử dụng, đến độ các của cải của công trình tạo dựng phải chảy dồi dào cách công minh giữa bàn tay của mọi người, theo nguyên tắc công bằng không thể tách rời với bác ái (95) ». Kết quả là quyền tư hữu, tự nó có giá trị và cần thiết, phải được hạn chế phạm vi trong những giới hạn do chức năng xã hội của nó áp buộc. Như Huấn Quyền đã phát biểu về vấn đề này trong thông điệp Người Lao Động, « truyền thống Kitô giáo không bao giờ bảo vệ quyền này như là một quyền tuyệt đối và bất khả xâm phạm. Trái lại, thông điệp đã luôn luôn hiểu nó trong khung cảnh rộng lớn hơn về quyền chung của mọi người sử dụng các của cải của toàn thể công trình tạo dựng : quyền tư hữu phụ thuộc vào quyền sử dụng chung, vào dự định chung cho các của cải (96) ».

2. Những giá trị nền tảng

43. Con đường bảo đảm

Những nguyên tắc suy tư của học thuyết xã hội của Giáo Hội, xét như là những luật lệ điều chỉnh đời sống xã hội, không độc lập với việc nhìn nhận thực sự các gía trị nền tảng gắn liền với phẩm giá nhân vị. Những giá trị này chủ yếu là : chân lý, tự do, công bằng, liên đới, hòa bình, đức ái hay tình thương Kitô giáo.

Sống những giá trị này là con đường bảo đảm không chỉ đối với việc hoàn thiện bản thân, nhưng còn đối với việc vận dụng một thuyết nhân bản đích thực và một đời sống chung mới trong xã hội. Vì thế, cần phải dựa vào những giá trị này để thực hiện những cải cách quan trọng các cấu trúc kinh tế, chính trị, văn hóa và công nghệ kỹ thuật, và những thay đổi cần  thiết nơi các thể chế.

44. Hướng đến việc canh tân xã hội

Tầm quan trọng sống còn của những giá trị này giải thích tại sao Giáo Hội luôn luôn mạnh mẽ đề nghị chúng như là những nền tảng đích thực của một xã hội mới xứng đáng với con người hơn. Dù nhìn nhận quyền tự trị của các thực tại trần thế (97), thế nhưng Giáo Hội biết rằng các luật lệ được con người khám phá và sử dụng trong đời sống xã hội không bảo đảm tự chúng, và như cách máy móc, thiện ích của mọi người. Quả thế, chúng phải được áp dụng dưới sự dẫn dắt của các giá trị bắt nguồn trong phẩm giá nhân vị (98). Tất cả những giá trị này biểu lộ sự ưu tiên của luân lý trên kỹ thuật, sự tối thượng của nhân vị trên các sự vật, sự trỗi vượt của tinh thần trên vật chất (99).

45. « Sự khôn ngoan » trong dấn thân xã hội

Thế nhưng, những giá trị thường xung đột với các hoàn cảnh nơi chúng bị phủ nhận cách thẳng thừng hay cách gián tiếp. Trong những trường hợp này, con người gặp khó khăn giữ trọn tất cả chúng cách thích đáng và đồng thời. Vì lý do này, sự phân định Kitô giáo các chọn lựa phải làm trong các hoàn cảnh khác nhau, dưới ánh sáng của các giá trị nền tảng của Kitô giáo, trở nên càng cần thiết hơn nữa. Đó là cách thực hành “sự khôn ngoan” đích thực, được Giáo Hội đòi hỏi về phía các kitô hữu và tất cả những người thiện chí trong việc dấn thân xã hội (100).

46. Những giá trị đối với sự phát triển

Khi lưu tâm đến sự phức tạp to lớn của xã hội loài người đương đại và sự cần thiết thăng tiến các giá trị được xác định như là nền tảng của một xã hội mới, Giáo Hội được mời gọi tăng cường tiến trình giáo dục với mục đích làm cho hiểu không chỉ đối với các cá nhân, nhưng còn đối với dư luận, ít ra trong những nước mà sự hiện diện của Giáo Hội được thừa nhận và hoạt động của nó được cho phép, thì sự cần thiết sống còn bảo vệ và thăng tiến các giá trị nền tảng của nhân vị, mà không có chúng người ta không thể có sự phát triển con người và toàn diện đích thực trong một xã hội.

Vì thế, sẽ không thể làm nổi bật được những nền móng của sự phát triển con người đích thực, mà còn được Giáo Hội yêu cầu gần đây trong Huấn Quyền xã hội của mình, nếu không có việc tái khẳng định thường xuyên phẩm giá nhân vị và những đòi hỏi luân lý và siêu việt của nó; nếu không có một nền đạo đức trách nhiệm và liên đới giữa các dân tộc (101) và công bằng xã hội; nếu không có việc xem xét lại ý nghĩa của lao công (102), mà bao hàm việc tái phân phối cách công bằng hơn.

 



Copyright © by Toà Giám Mục Phan Thiết :: All rights reserved.
Email ban biên tập: gpphanthiet@gmail.com || Ban quản trị: tgm_phanthiet@yahoo.com
Hosted by www. conggiao.net